Mong muốn chương trình GD căn bản, hiện đại cho người Việt Nam

“Hiện nay, các chuyên gia đang đọc Dự thảo Chương trình GD phổ thông tổng thể (dưới đây sẽ gọi là Dự thảo) và nghiên cứu để góp ý kiến với Bộ GD&ĐT một cách tích cực để sớm có một Chương trình GD phổ thông mới cho đất nước.

Chúng tôi rất hoan nghênh những cố gắng mà Ban soạn thảo đã dày công tham khảo nhiều chương trình hiện đại của các nước tiên tiến để áp dụng trong bối cảnh Việt Nam” - GS Võ Tòng Xuân chia sẻ trong bài viết gửi đến báo GD&TĐ.​

dao tao moi

Những điểm cần điều chỉnh

Trước hết, với phần đặt vấn đề (Lời nói đầu) - quan điểm và mục tiêu: Tôi đề nghị Ban soạn thảo xem xét các mục tiêu GD phổ thông của các quốc gia tiên tiến trong thời đại thế kỷ 21, để bổ sung mục tiêu người tốt nghiệp Việt Nam phải có (1) khả năng giao tiếp bằng một ngoại ngữ, (2) khả năng làm việc hoặc khởi nghiệp, (3) khả năng học thêm nghề chuyên môn, và (4) khả năng học cao hơn trung học.

Yêu cầu về phẩm chất và năng lực của HS: Phần này Dự thảo đã được soạn thảo rất hiện đại, nêu ra 6 phẩm chất và 10 năng lực của người HS phổ thông, với tiêu chuẩn nội dung kiến thức hoặc kỹ năng chi tiết cho từng phẩm chất, nội dung tại 3 cấp: Tiểu học, THCS và THPT. Phần rất quan trọng - nội dung chi tiết rõ ràng của từng môn học cho từng lớp học (Chuẩn kiến thức môn học) - thì chưa soạn, Ban soạn thảo để lại cho nhóm làm sách giáo khoa lo sau.

Đây là một điều còn bất cập, không bảo đảm tính nhất quán của một chương trình mới gần như hoàn toàn do các chuyên gia Ban soạn thảo thiết kế những học phần mới. Nếu chỉ dừng lại với từng ấy nội dung chi tiết từng cụm tiểu học, THCS và THPT như vậy sẽ không tránh được chồng chéo kiến thức trong các lớp. Chúng tôi đề nghị Ban soạn thảo nên tiếp tục xây dựng cho được Bộ Chuẩn kiến thức môn học của toàn bộ Chương trình GD phổ thông mới này.

Một trong những đổi mới trong GD-ĐT là viết SGK. Bộ GD&ĐT nên giao cho các nhà xuất bản tư nhân có thể làm hiệu quả hơn. Bộ sẽ quản lý chất lượng qua Bộ chuẩn kiến thức môn học. Chúng tôi đề nghị Bộ GD&ĐT giao cho Ban soạn thảo chương trình tổ chức soạn Bộ Chuẩn kiến thức môn học để các nhà xuất bản mời các chuyên gia viết sách cho cả hệ thống GD áp dụng, với một tỉ lệ thời gian hợp lý dành cho các địa phương thêm vào. Các giáo viên tham khảo nhiều SGK để soạn giáo án; chọn quyển SGK nào hay nhất để giới thiệu cho HS mua về học.

Dạy ngoại ngữ nên thiết thực

Trong số 10 năng lực cần hình thành trong người HS, với nhiều chi tiết của mỗi năng lực được hình thành trong quá trình học tập cả 12 năm, nên lưu ý thêm là HS sẽ học lên lớp cao hơn sau trung học, nên các em sẽ hình thành thêm năng lực cao hơn. Vì vậy trong giai đoạn THPT:

- Chưa nên gọi năng lực “tự chủ” mà nên gọi “tự lực”. Hãy nhìn cháu bé đang tự mặc áo, tự cài khuy áo, đó là năng lực tự lập. Khái niệm “tự chủ” nên dành cho SV đại học.

- Nên nhấn mạnh năng lực song ngữ trong năng lực giao tiếp. Trong suốt quá trình từ lúc 3 tuổi ở nhà trẻ - mẫu giáo + 12 năm GD phổ thông HS được tiếp cận, trau dồi tiếng Việt và một ngoại ngữ (như HS Singapore, Malaysia, Philippines, các nước Nam Á, Trung Đông, tất cả các nước châu Phi…).

Về Kế hoạch GD: Kế hoạch GD được đổi mới gần như hoàn toàn, tiếp cận được ngang tầm quốc tế. Nổi bật nhất là bốn môn học (1) Tiếng Việt - Ngữ văn, (2) Ngoại ngữ, (3) Toán, và (4) GD thể chất được học trong suốt quá trình 12 năm. Về môn tiếng Việt nên thiết kế chương trình cho HS học Tiếng Việt thật giỏi, phát âm tiếng Việt thật chuẩn (không nói “đớt” như phần lớn HS ngày nay).

Về môn Ngoại ngữ, chỉ học một ngoại ngữ (Tiếng Anh hoặc Tiếng Pháp, Tiếng Hoa) xuyên suốt từ 3 tuổi - mẫu giáo đến lớp 12. Không nên học hai ngoại ngữ trong chương trình phổ thông. Nếu HS có năng khiếu ngoại ngữ nào khác thì họ có thể học thêm ở lớp học bên ngoài trường.

Môn Ngoại ngữ (Anh văn) dù học bao nhiêu tiết đó cũng sẽ không đủ cho các cháu luyện một ngoại ngữ đạt mức giao tiếp. Đề nghị Ban soạn thảo thêm tiết học Ngoại ngữ để nâng cao năng lực giao tiếp song ngữ, tốt nhất là Việt Anh, cho người Việt chúng ta, nếu không thì người Việt luôn bị lép vế với dân ASEAN, dân Nam Á, dân Trung Đông, dân châu Phi, châu Âu và châu Mỹ khi hội nhập quốc tế. Nên giảm bớt môn học tự chọn 1 bằng cách cho chọn thêm môn Ngoại ngữ 1 như là một môn tự chọn 1 để HS có thêm thời gian học ngoại ngữ cho lưu loát.

Cần toàn diện hơn nữa

Như nhận xét bên trên, Dự thảo đã đạt mục tiêu đổi mới GD Việt Nam một cách gần cơ bản và toàn diện. Nhưng tôi cho rằng Chương trình phổ thông đổi mới này sẽ không đạt mục tiêu cơ bản và toàn diện, và khó thực nếu những vấn đề sau đây không được được đổi mới:

Lớp mẫu giáo phải là đơn vị quan trọng nhất của GD phổ thông, nên được bao gồm trong GD phổ thông mới. Trong hệ thống GD hiện tại của Việt Nam, các lớp mầm non và mẫu giáo của ta chưa được chú trọng đúng mức. Trong khi hệ thống GD các quốc gia tiên tiến luôn coi trọng GD mầm non, do giáo viên già dặn nghề giáo đảm trách.

Thêm Bộ chuẩn kiến thức (Set of Standards of Knowledge) của từng môn học đổi mới dạy trong từng lớp học. Đây là tài liệu quan trọng nhất mà Bộ sẽ dùng để quản lý chất lượng GD, đánh giá giáo viên và HS, chứ không phải là chương trình sách giáo khoa. Bộ nên giao nhiệm vụ cho Ban soạn thảo huy động thêm chuyên gia các môn học tham khảo các Bộ chuẩn kiến thức của các nước để soạn bộ chuẩn cho Việt Nam.

Thí dụ môn Toán lớp 3 thì học gì, lớp 4 học gì, cho đến lớp 12 học gì. Có được bộ chuẩn của từng môn học, các nhà xuất bản sẽ hợp đồng các chuyên gia môn học để soạn sách giáo khoa từng lớp theo đúng Bộ chuẩn kiến thức mà Bộ đã duyệt.

Phải quan tâm đào tạo giáo viên

Đào tạo giáo viên: Đây là khâu gay go nhất. Gần như tất cả các môn học sẽ đổi mới về nội dung kiến thức và phương pháp dạy/hướng dẫn. Với trình độ giáo viên tốt nghiệp từ các trường sư phạm qua chương trình đào tạo giáo viên hiện nay thì khó kham nổi chương trình mới này.

Do đó, đổi mới cơ bản nhất của GD của Việt Nam chính là đổi mới trước tiên chương trình đào tạo sư phạm để đáp ứng sự đổi mới chương trình GD phổ thông. Vấn đề này không được xem thường, phải thẳng thắn nhìn nhận chất lượng đội ngũ giáo viên phổ thông của ta hiện nay để thiết kế lại chương trình đào tạo giáo viên sao cho mỗi giáo viên tốt nghiệp Chương trình đào tạo giáo viên mới phải đạt trình độ cơ bản chuẩn về Tiếng Việt và Tiếng Anh (hoặc Ngoại ngữ 1 khác), và các môn học mới thiết kế bởi Chương trình GD phổ thông vừa soạn thảo.

Đối với các giáo viên hiện đứng lớp: Cần một chương trình đào tạo cấp tốc giáo viên dạy chương trình mới với Bộ chuẩn kiến thức môn học mới sẽ được Bộ GD&ĐT công bố. Mỗi giáo viên môn học được huấn luyện phương pháp dạy, phương pháp đánh giá mức độ HS đạt chuẩn kiến thức… Làm quen cách dạy với thực tế môn học, phải có khả năng chỉ cho HS những ứng dụng của kiến thức đang học vào thực tiễn. Khai thác khía cạnh hướng nghiệp của môn học mình đang dạy.

Phương tiện dạy và học của mỗi trường học phải được trang bị thật đầy đủ trợ huấn cụ (đồ chơi để học, máy móc, sân vườn…), thư viện với các tài liệu tham khảo cơ bản (cả giáo viên và HS đều tham khảo) và nối mạng Internet với nhiều đầu máy để bàn.

Theo tôi, đây là một Chương trình GD phổ thông được đổi mới gần như toàn diện và cơ bản. Để triển khai có hiệu quả chương trình này, cần phải có bước chuẩn bị thực hiện đầy đủ và chu đáo. Nếu làm khẩn trương, chúng tôi dự đoán phải cần thời gian ít nhất 3 năm kể từ khi có quyết định hành động.

Top
SJ Time - шаблон joomla Оригами